Trong
các nghiên cứu về hiệu quả xử lý chống nhiễm vi sinh vật trên rau quả
cho thấy ngành công nghiệp sau thu hoạch thường dùng các chất kháng vi
sinh trong các lĩnh vực không qui định rõ ràng. Một số nơi xử lý sản
phẩm và chế biến thường dùng ozone trong nước sát trùng, xử lý không
khí lạnh trong phòng chế biến, và các áp dụng sau thu hoạch khác.
Để áp dụng cho toàn
bộ hoặc các sản phẩm đã lột vỏ, các xí nghiệp xử lý và chế biến tin
tưởng vào việc tự quyết định rằng ozone đã được tổ chức GRAS (
Generally Recognized As Safe) công nhận như là chất phụ trợ chế biến
thực phẩm.
Các ý kiến của chuyên
gia đã tạo nên lời khuyến nghị này nhưng cho đến nay FDA vẫn chưa đưa
ra quyết định chính thức về chất Ozone . Không như khí Clor, chất
Calcium hypochlorite, và sodium hypochlorite, chưa có xử lý sau thu
hoạch nào sử dụng đến Ozone được đăng ký cho U.S EPA ( the U.S
Environmental Protection Agency) hay cho DPR (California Department of
Pesticide Registration)
Ozone(O3
Ozone là một chất
hoạt hóa mạnh, xảy ra quá trình oxi hóa tự nhiên với bề dày lịch sử về
sử dụng an toàn nước máy , xử lý nước, nước uống nấu sôi, và các bể
bơi. Các áp dụng Ozone hiện nay như dùng trong xử lý nước thải, các
chất thải trong sản xuất sữa, lò giết mổ, tháp làm lạnh, hệ thống nước
bệnh viện và dụng cụ, các hồ cá cảnh và ao cá, các công viên nước…
Ở trạng thái sạch,
nước máy sẽ không có các vật chất hữu cơ, các phân tử đất đá, và Ozone
có hiệu quả tẩy trùng cao nhất ở nồng độ 0.5-2ppm.
Ozone không tan trong
nước ở nồng độ 0.00003g/100ml và nhiệt độ 20oC và hiệu quả phát tán của
Ozone là chủ yếu để kháng vi sinh vật. Hoạt tính chống nhiễm khuẩn của
Ozone không hiệu quả khi pH nước từ 6-8.5. Tính ăn mòn thiết bị của
Ozone cao và Ozone có thể gây chết người ở nồng độ trên 4ppm. Ozone
cũng dễ dàng được phát hiện bằng cách ngửi khi ở nồng độ 0.01-0.04ppm.
Các giới hạn OSHA cho việc ngộ độc Ozone cụ thể ở nồng độ 0.1ppm là
ngưỡng kéo dài trong 8 giờ, ở nồng độ 0.3ppm là trong 15phút. Ở nồng độ
1ppm Ozone có mùi hôi hăng cay không chịu được, gây kích thích mắt và
ho.
Yêu cầu ngăn chận khí
thoát ra trong một qui trình mở cần phải được đánh giá cẩn thận trên
từng cơ sở có sử dụng Ozone nhưng theo kinh nghiệm hiện nay thì không
thể dự báo được vấn đề nghiêm trọng gì khi xảy ra cho công nhân trong
dây chuyền sản xuất.
Nồng độ hiệu quả và an toàn rất khó duy trì trong nước xử lý vì hệ thống phát hiện tự động không có được tin cậy cao.
Các máy dò điện cực
có thể đo được tiềm năng giảm oxi hóa của nước hoặc các bộ kit đo màu
đang được sử dụng để giám sát nồng độ Ozone chính xác hơn nhưng các vấn
đề trong thực tiễn áp dụng vẫn còn xảy ra. Ozone cũng rất không ổn định
trong nước và phân hủy Oxy trong thời gian rất ngắn. Trong nước chế
biến nghi ngờ có chứa các vật chất hửu cơ và đất, một nửa chu kỳ của
hoạt động của Ozone có thể ngắn hơn 1 phút. Nhiệt độ thấp hơn sẽ kéo
dài nửa chu kỳ của Ozone. Việc duy trì nồng độ hiệu quả của Ozone trong
việc ngăn chận nhiễm vi sinh vật bằng cách dùng máy phát và tiêm Ozone
từ xa vào hệ thống nước trung tâm như đã làm với Chlorine và Chlorine
dioxide, cho thấy rất khó và không hiệu quả.
Đối với thực tiễn
dùng Ozone trong xử lý sau thu hoạch rau quả tươi, những trở ngại trên
dường như sẽ được khắc phục. Trong một số trường hợp, sau khi đã bơm
Ozone vào thì việc sử dụng thêm lượng nhỏ hypochlorite (ít hơn dùng các
nhân tố chống oxi hóa), hay những chất chống nhiễm khuẩn ổn định khác
được cho vào nước sẽ đạt hiệu quả diệt khuẩn cao hơn
OZINE HÌNH THÀNH BẰNG CÁCH NÀO?
Ozone được tạo thành
bằng cách tăng năng lượng để tách đôi phân O2. Một O đơn lẻ nhanh chóng
kết nối với phân tử O2 sẵn có để hình thành nên O3 hoạt động mạnh.
Trong tự nhiên, Ozone hình thành bởi tia UV (185nm) từ mặt trời và suốt
quá trình chiếu sáng. Trong thương mại, thiết bị giải phóng năng lượng
UV phải đi qua không khí xung quanh (20% O2), xuyên qua nguồn ánh sáng
UV, điển hình hơn 210nm. Những hệ thống này có chi phí thấp hơn nhưng
cũng có đầu ra hạn chế hơn các hệ thống quang học. Các máy phát quang
đi qua không khí giàu O2 khô thông qua hiệu thế điện cao
(>5.000Volt) hay vùng quang corona tương tự như tia lửa điện khi cắm
phích cắm vào ổ điện. O3 quá mức cần thiết không phân tán trong nước
phải được thu lấy và hủy đi để ngăn chặn sự ăn mòn và gây thương tích
cho người. Một phương pháp hủy Ozone là dùng tia UV ở tấn sóng dài hơn
254nm, kết hợp với dùng tác nhân xúc tác.
LÀM THẾ NÀO TÁC ĐỘNG HIỆU QUẢ ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC
Các chất hữu cơ và vô
cơ không tan lơ lửng trong nước sẽ phản ứng nhanh chóng với Ozone và
gây nhiễu với phản ứng kháng khuẩn. Tương tự như chlorine, chất lượng
nước có tác động quan trọng đến nhu cầu Ozone và tính ổn định trong
nước. Đặc biệt, sắt hòa tan, mangan, đồng, kền, hydro sulfit và ammonia
sẽ gia tăng nồng độ và thời gian tiếp xúc cần thiết để gây chết tối đa
vi sinh vật . Các phức hợp chất hữu cơ và vơ cơ huyền phù được cho là
nguyên nhân ngăn cản các tổ chức vi sinh vật chống lại phản ứng sát
trùng của Ozone.
Chất rắn lơ lửng (
hay thời gian tiếp xúc không đủ trong đường ống hoặc bồn chứa nước mưa)
thường được dẫn ra là yếu tố chính trong việc làm chậm phản ứng chống
vi sinh vật của việc xử lý nước, số vi sinh vật không giảm hơn 1 log.
Trong các hệ thống lọc, việc giảm từ 3-4 log là có thể. Nước giếng sẽ
tải các vật chất hữu cơ ít hơn và nhiều vô cơ hơn nước bề mặt. Nước xử
lý tuần hoàn sẽ có nhiều vi sinh vật hơn, nhiều chất rắn hữu cơ huyền
phù hơn và tiềm ẩn nhiều ký sinh trùng và các hóa chất hữu cơ khác vì
khả năng phản ứng của Ozone với các chất hữu cơ, thực tế chỉ hỗ trợ cho
các thiết bị lọc trong việc gạn lọc chu trình tuần hoàn hay làm mát
nước mà thôi
SO SÁNH OZONE VÀ CHLORINE
Ozone được báo cáo là
có tiềm năng Oxi hóa 1,5 lần cao hơn chlorine và 3.000 lần cao hơn
HOCl. Thời gian tiếp xúc đối với phản ứng kháng vi sinh vật điển hình
là thấp hơn 4-5 lần so với chlorine. Ozone tấn công nhanh màng tế bào
vi khuẩn và chống lại các màng tế bào dày của các bào tử của các sinh
vật gây hại cây trồng và ký sinh động vật ở nồng độ an toàn và thực
tiễn hiệu quả hơn chlorine
Khi so sánh hiệu quả
phân hủy hoàn tòan các chất cặn và các sản phẩm phản ứng hữu cơ hình
thành do sử dụng chlorine, Ozone không có các sản phẩm nào bị hủy bỏ
hay tái chế. Các sản phẩm oxi hóa và oxy là đầu ra của phản ứng Ozone.
Có nhiều cách tính toán nhưng để giảm bớt chi phí vốn cho các thiết bị
tạo và phân tán Ozone thì chi phí tương đối được tính toán như sau:
Cl2 - $0.35 / lb
NaOCl - $1.14 / lb
Ca(OCl)2 - $1.14 / lb granular
Ca(OCl)2 - $1.29 / lb ../tablet
O3 - $0.48 / lb
Chi phí cho khoảng 1
pound O3 là 1.000USD. Để tạo Ozone cần khoảng gấp 5 lần năng lượng cho
sản xuất Cl2 lại ngắn gấp 25 lần sản xuất ClO2
OZONE ĐÃ TỪNG ĐƯỢC THỬ NGHIỆM CHO XỬ LÝ SAU THU HOẠCH NÀO KHÁC?
Ozone đã được đánh
giá về khả năng kiểm soát bệnh hại sau thu hoạch và các cách bảo quản
khác trong nhiều năm. Một số cách dùng trong thương mại áp dụng Ozone
trong bảo quản táo, sơri, cà rốt, hành và khoai tây. Đánh giá sử dụng
Ozone trong xử lý nước và không khí trong quản trị chất lượng sau thu
hoạch cho thấy hoạt động đánh giá theo kinh nghiệm được ưa thích hơn.
Các thí dụ gồm có sự
suy giảm ethylene (trong phản ứng hạn chế), khử mùi trong các kho tổng
hợp, kháng nhiễm trong các hệ thống có nhiều ẩm (các siêu thị bán lẻ),
khử các bào tử nấm trong các bình phun xịt cho phòng trữ, và xử lý nấm
mốc trên bề mặt sau một thời gian dài vận chuyển củ hành. Cả hai biện
pháp kiểm soát dịch bệnh và độc tố vật lý hiệu quả của không khí được
ozone hóa trên các loại vật thể khác nhau được ghi nhận trên bảng nho
và carrot(tẩy trắng).
Xử lý Ozone được báo
cáo nhằm giới thiệu các hợp chất phản ứng bảo vệ cây trồng tự nhiên
liên quan đến sự đối kháng . Một nghiên cứu bổ sung là cần thiết nhằm
xác định khả năng và giới hạn của việc sử dụng Ozone trong xử lý sau
thu hoạch trong toàn bộ và phần nhỏ nhất của quá trình chế biến rau quả.
Hiện nay, Ozone chưa
được đăng ký vào danh sách cho phép sử dụng của California DPR như một
chất xử lý sau thu hoạch tiếp xúc trực tiếp với sản phảm.
Bảng kiến nghị của
các chuyên gia hiện nay đệ trình lên FDA hỗ trợ cho bảng phân loại GRAS
xếp Ozone như một chất sát trùng dùng cho thực phẩm đã mở ra cánh cửa
cho công nghiệp sản phẩm thiết lập một cam kết về tính an tòan khi sử
dụng và phù hợp với GMP. Khi sử dụng Ozone tiếp xúc với sản phẩm, một
bản trình bày ý kiến chuyên gia (Graham 1997) phải luôn luôn có sẵn tại
nơi sản xuất nhằm đáp ứng yêu cầu của chuyên gia giám định hoặc của cơ
quan chức năng dựa trên bảng phân loại GRAS.